Thứ Hai, 30 tháng 11, 2015
Thứ Sáu, 20 tháng 11, 2015
40 MÙA CHIM XÂY TỔ
(Tặng mái trường tuổi 40)
Tác giả: Trung tướng, PGS, TS Phạm Quốc Trung
Hiệu trưởng Trường Đại học Chính trị.
Màu thời gian thấm đậm lớp rêu phong
Đẹp nguyên sơ mái trường Thành Cổ
Cây phượng già đã bao mùa hoa đỏ
Tiễn vạn bước chân đi bốn phương trời.
Sắc màu nhân văn lan tỏa nơi nơi
Bên cây súng luôn có đàn, có sách.
Khi Tổ quốc cần, máu xương không tiếc
Nguyện nằm lại biên cương, mãi mãi không về…
Bốn mươi năm vượt gian khó bộn bề
Qua bao lần thay tên, nhập, tách
Trăn trở, miệt mài bên từng trang sách
Để lý luận gần hơn thực tiễn chiến trường.
Bài học hôm nay trên bục giảng đường
Đèn trình chiếu thay dần bụi phấn.
Hoa khoe sắc bên dây phơi áo lính
Giúp thăng hoa câu “quan họ yếm đào”.
Mấy thế hệ chung bước dưới cờ sao
Cây trái chín, nụ chồi tiếp nối
Pho sử Trường mở sang trang mới
Vẫn đậm tên ai xây móng, đắp nền.
Làn hương thờ các Liệt sĩ học viên
Tỏa nhuộm màu xanh lá xà cừ cổ thụ
Che bóng mát gọi chim về xây tổ
Để một mai tung cánh hướng chân trời./.
***
ĐỌC BÀI THƠ “40 MÙA CHIM XÂY TỔ” CỦA PHẠM QUỐC TRUNG
Hồng Chuyên
Một mái trường tọa lạc trong thành cổ, rêu phong, đã bao năm thăng trầm tách nhập, nhưng ngôi trường ấy đã vượt qua, đã đào tạo hàng vạn học học viên cán bộ. Ngôi trường ấy luôn gắn liền với chiến trường, gắn trực tiếp, máu xương của cán bộ học viên nhà trường đã nhuộm đỏ biên cương Tổ Quốc
Ngôi trường ấy đào tạo ra những người cầm súng, nhưng bên súng luôn có sách có hoa có đàn, ấy là đặc trưng của đào tạo cán bộ chính trị, là truyền thống Trường Sĩ quan Chính trị. Ngôi trường ấy lại được đắm mình trong một vùng văn hóa quan họ càng làm thấm đượm và thăng hoa thêm chất nhân văn.
Đã 40 năm, biết bao thế hệ đã góp công tạo lập, và giờ đây ngôi trường đang từng ngày từng giờ thay đổi, tiếp cận nhanh chóng với hiện đại, nhưng người sau luôn trân trọng ghi nhớ công lao của các thế hệ đi trước. Mãi mãi ngôi trường như tổ ấm, nuôi lớn bao thế hệ tiếp nối nhautừ đây tung cánh tới bốn phương trời…
Có người sẽ nghĩ là tôi đang tóm tắt lịch sử Trường Sĩ quan Chính trị? không, đừng ngạc nhiên, tôi vừa tóm tắt nội dung bài thơ 6 khổ 24 câu “40 mùa chim xây tổ” của Phạm Quốc Trung.
Có thể nói không ai giỏi hơn Phạm Quốc Trung trong việc khái quát những gì cần nói và đưa vào thơ, tất cả như được cô đặc, chắt lọc lại trong bài thơ, từng giọt, từng chữ.
Nhưng nội dung cũng chỉ là một nửa, thậm chí ít hơn. Tác giả không chỉ muốn người đọc hiểu mà còn muốn người đọc cảm được tinh thầnbài thơ qua những biểu tượng, những hình tượng mà chỉ có người “Sĩ quan chính trị” mới hiểu, đó là cây xà cừ cổ thụ, là cây phượng già mỗi mùa tan trường lại trổ hoa đỏ rực, là khói hương lan tỏa từ phòng tưởng niệm, là sự trăn trở để nhà trường gần hơn với chiến trường, là những bộn bề gian khó mà chỉ riêng ngôi trường này mới trải qua. Tất cả được tác giả nói đến nhẹ nhàng, thậm chí thoáng qua nhưng trong đó trĩu nặng sự trân trọng, yêu mến, trăn trở. Đó là cả một tình yêu.
Tôi đặc biệt thích khổ cuối:
“Làn hương thờ các liệt sĩ học viên
Tỏa nhuộm xanh lá xà cừ cổ thụ
Che bóng mát gọi chim về xây tổ
Để một mai tung cánh hướng chân trời./.”
Người đọc sẽ thích thú với hình tượng làn khói hương thiêng liêng bay lên như nhuộm xanh thêm vòm xà cừ, để cái vòm xanh đó che chở cho tổ ấm nuôi lớn những cánh chim ngày mai sẽ tung cánh bay rộng bốn phương trời. Ai ở Sĩ quan chính trị cũng biết cả tòa nhà S50, nơi có Phòng tưởng niệm trọn vẹn nằm dưới bóng cây Xà Cừ cổ thụ. Chắc hẳn tác giả từng đứng giữa sân, nhìn những làn khói bay ra từ phòng tưởng niệm và nghĩ tới câu thơ này. Sự hy sinh của các liệt sĩ không bao giờ là uổng phí, sự hy sinh đó đang góp phần vào sự nghiệp trồng người của Trường Sĩ quan Chính trị. Quá khứ tiếp nối tới hiện tại, tương lai. Chỉ có như thế mới chúng ta mới có thể đào tạo ra những Con Người, những Cán Bộ Đảng Viên viết hoa. Chỉ có thể đi tới, bay tới tương lai từ sự trân trọng thực sự với lịch sử hào hùng.
Tôi chợt hiểu phải tâm huyết lắm, nung nấu lắm mới viết được như thế.
NGUYỄN VĂN THƯỞNG::
Một bài thơ hay không phải chỉ mượt mà ở câu chữ, mà trên hết là ở tình cảm của tác giả thấm ướt bên trong, quan trọng hơn là thông điệp mà nó mang đến cho người đọc. Chắc hẳn không ai trong chúng ta lại không lưu giữ trong mình hình ảnh về một mái trường, về thầy, về cô. Thứ tình cảm thuần khiết ấy ai cũng biết, ai cũng có thể cảm nhận được, nhưng không phải ai cũng biểu cảm được.
Ngôi trường này, vòm Thành này đã thiết thân với biết bao thế hệ, biết bao con người. Vậy nhưng đã có mấy người nói lên tình cảm của mình về nó. Và vì thế, viết về nó, từ trước đến nay, bằng văn, bằng thơ hay nhạc, chắc hẳn chỉ đếm trên đầu ngón tay một số ít sáng tác thực sự sâu sắc và có ý nghĩa.
Bài thơ này của Thủ trưởng đã nói hộ tiếng lòng của rất, rất nhiều thế hệ cán bộ, học viên, nhân viên Nhà trường. Nếu không phải là người có tình cảm sâu sắc và thực sự nhiệt tâm với sự phát triển của Nhà trường, với sự nghiệp trồng người thì với một người mới chỉ gắn bó một thời gian ngắn sẽ không thể viết được những lời thơ ý nghĩa như thế (bởi có rất nhiều người gắn bó cả đời mà cũng có viết được gì đâu). Ngôi trường này thực sự may mắn có một Người Thầy như thế (trong tâm trí của em cho đến bây giờ, và có lẽ mãi về sau này nữa, sẽ luôn ấn tượng và khắc in hình ảnh một dáng người thoăn thoắt đạp xe, thoăn thoắt lần gỡ những gian khó cho ngôi trường này, mộc mạc vậy nhưng sao xúc động thế. Một bài học về sự giản dị, sâu sát, cụ thể mà nhiều người trẻ chúng em đang thiếu.
Trở lại với bài thơ, dù không dài nhưng nó là bức tranh sinh động, đầy đủ về quá trình xây dựng và trưởng thành của Nhà trường bằng những hình ảnh mộc mạc, chân thực nhưng lại là chứng nhân của những thăng trầm. Đó là vòm Thành phong rêu, là cây phượng già, cây xà cừ cổ thụ…Nhưng hơn hết là về những con người nơi đây: nhân văn (bởi chất quan họ, bởi chất chính trị), sống thanh tao và cống hiến hết mình.
Và nữa, trung thành với truyền thống không có nghĩa là quay về với quá khứ mà là đem hết sức mình để tiến về tương lai, sải tung cánh để “hướng chân trời”. Suy cho cùng, vì ngược gió mà diều mới bay lên được. Nên phải chăng, hãy thay đổi cách nghĩ, thay vì cứ lấy vượt khó làm cái cớ để vin vào mà tự trói mình trong nếp nghĩ cũ và bằng lòng với những gì đang có, thì hãy coi ngược và vượt khó là cách để khẳng định, để trưởng thành.
Và nữa, trung thành với truyền thống không có nghĩa là quay về với quá khứ mà là đem hết sức mình để tiến về tương lai, sải tung cánh để “hướng chân trời”. Suy cho cùng, vì ngược gió mà diều mới bay lên được. Nên phải chăng, hãy thay đổi cách nghĩ, thay vì cứ lấy vượt khó làm cái cớ để vin vào mà tự trói mình trong nếp nghĩ cũ và bằng lòng với những gì đang có, thì hãy coi ngược và vượt khó là cách để khẳng định, để trưởng thành.
***
Trong suốt chặng đường lịch sử 40 năm xây dựng, chiến đấu và trưởng thành, trải qua những cung bậc thăng trầm của sự nghiệp đào tạo cán bộ chính trị cấp phân đội. “Mái trường trong lòng Thành cổ” đã bao lần đổi tên, tách, nhập nhưng vẫn sắt son với con đường hướng tới mục tiêu đã định. Đã có biết bao thế hệ học viên về nhập Trường, rồi sau thời gian đào tạo lại ra đi khắp mọi miền Tổ quốc để cống hiến con tim, khối óc và cả máu xương cho Tổ quốc thân yêu… Tại buổi gặp mặt kỷ niệm 33 năm Ngày Nhà giáo Việt Nam (20/11/1982 - 20/11/2015), trong giây phút xúc động trước công lao to lớn của các thế hệ thầy giáo, cô giáo đã cống hiến trí tuệ và công sức cho sự nghiệp giáo dục - đào tạo của Nhà trường, bằng tâm hồn nghệ sĩ của một vị tướng tài ba, đồng chí Trung tướng, PGS, TS Phạm Quốc Trung, Hiệu trưởng Nhà trường đã cảm tác bài thơ “40 mùa chim xây tổ” gửi tặng các thế hệ cán bộ, giảng viên, học viên, nhân viên, chiến sĩ Nhà trường. Ban Biên tập Website Trường Đại học Chính trị trân trọng gửi tới bạn đọc bài thơ đầy cảm xúc và giàu ý nghĩa này.
VĂN LÂM:
Vẫn biết thơ là hương nhụy của cuộc sống, là “thi trung hữu họa” nhưng khi cảm thụ bài thơ này, nhất là những người đã, đang học tập, rèn luyện, công tác tại Mái trường Sĩ quan Chính trị sẽ mau chóng được cuốn hút, đồng cảm với tác giả trước bức tranh sống động, linh thiêng, lắng sâu của “rêu phong Thành cổ, hoa phượng đỏ, cây xà. cừ cổ thụ…” và hơn hết là dặm dài bước dựng xây, trưởng thành của tình đất, tình người bao chứa trong cái nôi đào tạo nên đội ngũ cán bộ có trọng trách giữ lửa nhiệt tình, niềm tin, sẵn sàng hiến dâng Tổ quốc cho những con người trong lực lượng vũ trang.,
Vẫn biết thơ là hương nhụy của cuộc sống, là “thi trung hữu họa” nhưng khi cảm thụ bài thơ này, nhất là những người đã, đang học tập, rèn luyện, công tác tại Mái trường Sĩ quan Chính trị sẽ mau chóng được cuốn hút, đồng cảm với tác giả trước bức tranh sống động, linh thiêng, lắng sâu của “rêu phong Thành cổ, hoa phượng đỏ, cây xà. cừ cổ thụ…” và hơn hết là dặm dài bước dựng xây, trưởng thành của tình đất, tình người bao chứa trong cái nôi đào tạo nên đội ngũ cán bộ có trọng trách giữ lửa nhiệt tình, niềm tin, sẵn sàng hiến dâng Tổ quốc cho những con người trong lực lượng vũ trang.,
Khi giai điệu của thi phẩm cất lên, là lúc con tim được đánh thức trước nét trang nghiêm, tràn đầy tính nhân văn của không gian thơ có phần cổ kính, hoài niệm, in đậm truyền thống hào hùng được hóa thân vào văn vật rất đỗi gần gũi, vào bảng lảng khúc bi tráng về những Anh hùng Liệt sĩ lan tỏa từ nơi tưởng niệm.
Có nhà thơ đã nói đến “đất ở/ tâm hồn” để diễn đạt cái thực bình thường có thể nắm bắt, nhìn nhận nhưng kèm theo đó là cái sâu lắng trong tâm hồn khi được nhìn, thẩm thấu sâu hơn.
Thêm một lần hiểu thơ là hương nhụy, hữu họa trong thơ là chấm phá, điểm nhãn.
. Đỗ Đức Mạnh
. Đỗ Đức Mạnh
Chúng tôi từ khắp mọi miền quê về đây, vinh dự tự hào mang trên mình màu xanh áo lính, được học tập công tác dưới mái Trường Sĩ quan Chính trị, ngôi trường thân yêu tọa lạc trong Thành cổ rêu phong cùng thời gian, trải qua biết bao thăng trầm của lịch sử đất nước, bên sông Cầu, con nước bình yên trĩu nặng phù sa bồi đắp cho miền quê Kinh Bắc, có điệu Quan họ thiết tha " người ơi người ở đừng về’’.
40 năm là một dấu son, in đậm vào tâm trí của biết bao con người đã và đang có thời gian học tập, công tác tại đây, với tình cảm của riêng mình Thầy Hiệu trưởng, Trung tướng, PGS, TS Phạm Quốc Trungđã viết lên những vần thơ chứa đựng trong đó là những tình cảm, tâm tư, xúc động, trước những tấm gương hy sinh anh dũng của các Anh hùng, Liệt sĩ của Nhà trường ở trên trận tuyến chiến đấu chống kẻ thù, bảo vệ Tổ quốc, trong cuộc sống đời thường, trong thực hiện nhiệm vụ giảng dạy,học tập và công tác hay là những chặng đườngđầy gian khổ mà Mái trường đã vượt qua đã được gửi gắm qua những vần thơ:
‘’Màu thời gian thấm đậm lớp rêu phong
Đẹp nguyên sơ mái trường Thành Cổ
Cây phượng già đã bao mùa hoa đỏ
Đó chính là mái Trường Sĩ quan Chính trị, ngôi trường đào tạo ra những cán bộ chính trị cấp phân đội, giảng viên khoa học xã hội và nhân văn quân sự cho toàn quân với truyền thống rất đỗi tự hào và cao quý, vừa mang đậm nét thơ, ca, nhưng lại chứa đựng những tình cảm sâu nặng của Người Thầy với sự nghiệp giáo dục, đào tạo của Đất nước và Nhà trường, tình cảm với các thế hệ cán bộ, giảng viên, học viên của Nhà trường, mà không gì có thể so sánh nổi, mặc dù thời gian có thể làm mọi thứ thay đổi, nhưng tâm huyết với sự nghiệp trồng người thì còn mãi với thời gian.
‘’Sắc màu nhân văn lan tỏa nơi nơi
Bên cây súng luôn có đàn, có sách.’’
40 năm một chặng đường cũng đã có thể nói là dài với biết bao thành tích đã đạt được, những tấm huân chương lấp lánh trên Quân kì của Nhà trường đã nói lên điều đó, trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc, công sức, máu xương của cán bộ, học viên của Nhà trường đã đổ xuống.
‘’Khi Tổ quốc cần, máu xương không tiếc
Nguyện nằm lại biên cương, mãi mãi không về…’’
Và trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hôm nay, ở nơi đâu cũng có bóng dáng của những học viên, cán bộ Nhà trường, và cũng từ Mái trường này lớp lớp cán bộ, học viên ra trường đã hoàn thành chức trách nhiệm vụ trên các cương vị công tác.
Và không chỉ ở khổ thơ trên mà cả bài thơ đã toát lên một tình cảm đặc biệt qua ánh nhìn tinh tế của Thầy về lịch sử, truyền thống, cũng như sự phát triển vươn mình đạt đến những tầm cao mới của hôm naycủa các thế hệ đi trước và hiện tại:
‘’Bốn mươi năm vượt gian khó bộn bề
Qua bao lần thay tên, nhập, tách
Trăn trở, miệt mài bên từng trang sách
Để lý luận gần hơn thực tiễn chiến trường’’
Hôm nay nhịp bước đến giảng đường, với nhiệm vụ học tập và nghiên cứu khoa học, thế hệ của chúng tôi đã có những điều kiện về cơ sở vật chất tốt hơn, mà qua lời thơ của Thầy Hiệu trưởng, chỉ 2 câu thôi:
‘’Bài học hôm nay trên bục giảng đường
Đèn trình chiếu thay dần bụi phấn.’’
Nhưng trong đó chứa đựng là sự quan tâm của quân đội là sự phát triển đi lên của đất nước, để chúng tôi tiếp bước Cha Anh, tiếp lửa truyền thống đã truyền lưu qua biết bao thế hệ, chắc tay súng bảo vệ quê hương, xây dựng quân đội, xây dựng Nhà trường mà qua lời thơ của Thầy như một lời khẳng định, một lời tri ân đến các thế hệ đã đóng góp, cống hiến để dựng xây lên mái trường Sĩ quan Chính trị hôm nay:
‘’Mấy thế hệ chung bước dưới cờ sao
Cây trái chín, nụ chồi tiếp nối
Pho sử Trường mở sang trang mới
Vẫn đậm tên ai xây móng, đắp nền.’’
Đã biết bao mùa thay lá, đâm chồi, giữa Thành cổ uy nghiêm và tôn kính, như tô thêm vào màu xanh của áo lính, tô thêm vào truyền thống rất đỗi tự hào của Nhà trường, đó là những tán xà cừ cổ thụ tỏa bóng nghiêng che, thoảng quện khói hương thành kính, lòng biết ơn vô hạn đến các Anh hùng, Liệt sĩ của Nhà trường đã không tiếc máu xương mình tô hồng thêm quân sử vẻ vang của quân đội anh hùng của một dân tộc anh hùng:
“Làn hương thờ các liệt sĩ học viên
Tỏa nhuộm xanh lá xà cừ cổ thụ’’
Và từ đây lớp lớp các thế hệ cán bộ học viên vẫn đang ngày đêm học tập, rèn luyện, phấn đấu, trưởng thành để cống hiến cho đất nước, cho sự nghiệp cách mạng cao cả mà toàn Đảng,toàn dân,toàn quân ta đã kiên định lựa chọn để xây dựng một đất nước Việt Nam mạnh giàu
Và lời cuối bài thơ đã mang trọn vẹn những ý nghĩa nhân văn cao cả ấy, bóng mát của hòa bình,của tự do cho những ước mơ được xây đắp để mai này vút cánh bay lên, trong đó có tất cả chúng ta, những người đứng dưới mái Trường Sĩ quan Chính trị.
"Che bóng mát gọi chim về xây tổ
Để một mai tung cánh hướng chân trời”.
Đọc thơ, hiểu thơ và mỗi người sẽ có những cảm nhận khác nhau, với riêng chúng tôi từ bài thơ của Thầy Hiệu trưởng đã cho chúng tôi những cảm nhận như vậy, xin cảm ơn Thầy vì những vần thơ đầy tâm huyết, xin kính chúc Thầy cùng gia đình mạnh khỏe, hạnh phúc, tiếp tục có những cống hiến xuất sắc cho sự nghiệp cách mạng. Xin cảm ơn thầy, người thầy giáo của những vần thơ tuyệt tác.
Thứ Năm, 2 tháng 7, 2015
ĐẾN VỚI MỘT BÀI THƠ HAY
Ngày 29 tháng 6 năm 2015, Nhạc sĩ Phan Huỳnh Điểu, một trong những đại thụ của nền âm nhạc Việt Nam đã từ trần, hưởng thọ 91 tuổi. Ông là tác giả của nhiều ca khúc bất hủ, sống mãi với thời gian như: Hành khúc ngày và đêm, Những ánh sao đêm, Thơ tình cuối mùa thu,...
Thơ tình cuối mùa thu là sáng tác phổ thơ bài thơ của nữ sĩ Xuân Quỳnh. Mỗi khi giai điệu của ca khúc cất lên, người ta như tưởng thấy một mùa thu dìu dịu, buồn buồn, lãng đãng hiển hiện xung quanh mình dù đang giữa những ngày hè nóng đổ lửa, hay giữa những ngày đông rét căm. Ca khúc thì hầu hết chúng ta từng nghe, từng thưởng thức; nhưng văn bản gốc bài thơ của nữ sĩ tài hoa bạc mệnh ấy thì không phải ai cũng để ý. Trang Thông tin Văn học nghệ thuật Trường Sĩ quan Chính trị xin giới thiệu với bạn đọc bài thơ này.
Có một điểm rất đáng lưu ý trong bài thơ mà rất nhiều người bị nhầm lẫn. Đó là ở khổ thơ: " Cuối trời mây trăng bay/Lá vàng thưa thớt quá/ Phải chăng lá về rừng/Mùa thu đi cùng lá/Mùa thu ra biển cả/Theo dòng nước mênh mang/Mùa thu vào hoa cúc..." , rất nhiều người đã đọc thành "mùa thu vàng hoa cúc". Khi bài thơ được nhạc sĩ Phan Huỳnh Điểu phổ nhạc, cũng có nhiều ca sĩ nổi tiếng đã hát thành "mùa thu vàng hoa cúc", nên chính nhạc sĩ nhắc họ cần hát cho đúng từ dùng của bài thơ. Chúng ta thấy, rõ ràng, nếu chỉ là "mùa thu vàng hoa cúc" thì câu thơ thường quá. Mùa thu nào chẳng bạt ngàn hoa cúc vàng. Nhưng Xuân Quỳnh của chúng ta không thường như vậy. Chị dùng ba từ "mùa thu" ở trong khổ thơ, song hai từ đầu là mùa thu-danh từ, còn từ thứ ba là "mùa thu vào", chữ thu đã trở thành nội động từ. Và đấy mới chính là sự tinh tế của câu thơ, khiến cho cả khổ thơ trở nên lung linh...
Mời các bạn cùng thưởng thức bài thơ:
THƠ TÌNH CUỐI MÙA THU
Xuân Quỳnh
Cuối trời mây trắng bay
Lá vàng thưa thớt quá
Phải chăng lá về rừng
Mùa thu đi cùng lá
Mùa thu ra biển cả
Theo dòng nước mênh mang
Mùa thu vào hoa cúc
Chỉ còn anh và em
Chỉ còn anh và em
Là của mùa thu cũ
Chợt làn gió heo may
Thổi về xao động cả:
Lối đi quen bỗng lạ
Cỏ lật theo chiều mây
Đêm về sương ướt má
Hơi lạnh qua bàn tay
Tình ta như hàng cây
Đã qua mùa gió bão
Tình ta như dòng sông
Đã yên ngày thác lũ
Thời gian như là gió
Mùa đi cùng tháng năm
Tuổi theo mùa đi mãi
Chỉ còn anh và em
Chỉ còn anh và em
Cùng tình yêu ở lại...
- Kìa bao người yêu mới
Đi qua cùng heo may
Nguồn: Tự hát, Xuân Quỳnh, NXB Tác phẩm mới, 1984
Lá vàng thưa thớt quá
Phải chăng lá về rừng
Mùa thu đi cùng lá
Mùa thu ra biển cả
Theo dòng nước mênh mang
Mùa thu vào hoa cúc
Chỉ còn anh và em
Chỉ còn anh và em
Là của mùa thu cũ
Chợt làn gió heo may
Thổi về xao động cả:
Lối đi quen bỗng lạ
Cỏ lật theo chiều mây
Đêm về sương ướt má
Hơi lạnh qua bàn tay
Tình ta như hàng cây
Đã qua mùa gió bão
Tình ta như dòng sông
Đã yên ngày thác lũ
Thời gian như là gió
Mùa đi cùng tháng năm
Tuổi theo mùa đi mãi
Chỉ còn anh và em
Chỉ còn anh và em
Cùng tình yêu ở lại...
- Kìa bao người yêu mới
Đi qua cùng heo may
Thứ Hai, 22 tháng 6, 2015
BA MƯƠI NĂM - MỘT CHẶNG ĐƯỜNG THEO ĐẢNG
Thấm thoắt đã 30 năm kể từ ngày tôi được kết nạp vào Đảng Cộng sản Việt Nam (18/4/1985-18/4/2015),từ một thanh niên vừa rời ghế nhà trường (tháng 7/1981), tham gia công tác Đoàn tại địa phương một thời gian ngắn, tháng 2/1982, tôi lên đường nhập ngũ. Lúc mới vào bộ đội, tôi chỉ tâm niệm một điều: "phục vụ quân đội lâu dài hay không thì chưa biết, nhưng dứt khoát khi trở về, minh phải là đảng viên". Nghĩ vậy nên tôi ra sức phấn đấu. Tháng 12/ 1982, sau khi tốt nghiệp lớp đào tạo khẩu đội trưởng, tôi được cấp trên điều về sư đoàn 350 Quân khu 3 công tác và đến tháng 4/1983, lại được cử về Trường Văn hóa Quân khu ôn thi vào các học viện, trường sỹ quan trong quân đội. Trúng tuyển vào Trường sỹ quan Pháo binh với số điểm 19 điểm ( lúc đó Trường Sỹ quan Pháo Binh lấy điểm chuẩn 14 điểm), tôi miệt mài học tập, rèn luyện và thường xuyên đạt kết quả khá trở lên. Học hết năm thứ nhất, sang đầu năm thứ 2, tôi được đưa vào diện đối tượng bồi dưỡng kết nạp Đảng trong quí 2 của năm 1985. Thời gian này, tôi tích cực học tập, rèn luyện và đều đạt kết quả khá, giỏi
. Các đồng chí trong tổ đảng, cấp ủy chi bộ trực tiếp hướng dẫn tôi làm các thủ tục kết nạp Đảng. Kỷ niệm khó quên nhất đối với tôi lúc đó là viết đơn xin vào Đảng, tôi viết đi, viết lại tới 4 lần mới xong. Bây giờ tôi vẫn nhớ như in toàn bộ nội dung đơn xin vào Đảng. Ngày 18 tháng 4 năm 1985, vào buổi tối, chi bộ đại đội 4, Đảng ủy tiểu đoàn 11 Trường Sỹ quan Pháo binh đã tổ chức kết nạp tôi cùng với 2 đồng chí nữa vào Đảng. Quyết định kết nạp vào Đảng của tôi do đồng chí Chủ nhiệm chính trị nhà trường ký, vì lúc đó, theo nghị quyết 07 của Ban chấp hành Trung ương khóa 5, cơ quan chính trị là cơ quan lãnh đạo về Đảng. Nghị quyết này, chỉ ít tháng sau được thay thế bằng Nghị quyết 27, xác định lại cơ quan lãnh đạo của Đảng là BCH Đảng bộ các cấp do Đại hội đại biểu hay đại hội toàn thể đảng viên bầu và Đảng lãnh đạo trực tiếp thống nhất về mọi mặt đối với lực lượng vũ trang. Đây cũng là dấu mốc quan trọng trong ngày đầu của tôi đứng trong hàng ngũ của Đảng. Sau này trong quá trình sinh hoạt, công tác mới thấy, mỗi lần thay đổi cơ chế lãnh đạo là một bước tiến quan trọng trong quá trình xây dựng và phát triển của Đảng, nếu cơ chế không đúng sẽ phải trả bằng cái giá rất đắt. Cơ chế đúng sẽ phát huy được hiệu lực lãnh đạo của tổ chức đảng, vai trò trách nhiệm của đảng viên trong công tác. Tốt nghiệp loại khá, tôi được cấp trên điều về nhận công tác tại Quân khu 2, sau 9 năm trên cương vị Phó đại đội trưởng chính trị, trợ lý chính trị tiểu đoàn, dù ở cương vị nào, tôi đều hoàn thành tốt nhiệm vụ, trong đó đại đội 6-Tiểu đoàn 2 do tôi làm phó Đại đội trưởng về chính trị kiêm bí thư chi bộ đã lãnh đạo đơn vị 5 năm liền hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được Bộ tư lệnh Quân khu tặng danh hiệu " Đơn vị Quyết thắng". Tháng 8/1995, sau khi học xong lớp TTV-CTV do Báo Quân đội nhân dân tổ chức tại Quân khu 2, tôi được điều về báo Quân khu 2 làm phóng viên. lúc này tôi như con chim đang sống ở nơi chật hẹp, nay có điều kiện được bay bổng giữa bầu trời trí thức bao la, thỏa sức khám phá sáng tạo, viết những bài viết tràn đầy hơi thở của cuộc sống. Và tôi cũng đã gặt hái được một số thành công. Tốt nghiệp Học viện Báo chí và tuyên truyền tháng 12/2003, đến tháng 10/2004, tôi được bổ nhiệm Phó Tổng biên tập báo Quân khu 2, hai năm sau được điều về Quân khu Thủ đô làm Trưởng ban biên tập tờ tin, rồi Tổng biên tập báo. Thời gian này, tôi đã dày công xây dựng báo Quân khu Thủ đô, sau đổi thành báo Quốc phòng Thủ đô từ một bản tin xuất bản mỗi tháng một kỳ, mỗi kỳ hơn 3500 tờ thành tờ báo ra hằng tuần, mỗi tuần xuất bản hơn 5ooo tờ,. báo có khuôn khổ 19x32 cm, 8 trang. đầy ắp thông tin về mọi mặt kinh tế- xã hội và quốc phòng- an ninh. Ngoài ra báo Quốc phòng thủ đô còn có chương trình truyền hình LLVT thủ đô trên sóng Đài phát thanh - truyền hình Hà Nội, mỗi tuần phát sóng 30 phút vào tối thứ 4 hằng tuần. Hằng năm tham gia các cuộc thi báo chí do Thành phố và Toàn quân tổ chức, báo quốc phòng thủ đô và cá nhân tôi đều được giải. Tôi đã đoạt 2 giải (1 giải B và 1 giải c) trong các cuộc thi báo chí do Bộ Quốc Phòng và TCCT tổ chức vào năm 2002 và năm 2004, được Chủ tịch Nước tặng thưởng Huân chương chiến công hạng nhất, hạng ba, 1 huân chương quân kỳ quyết thắng hạng nhì, 3 HCCS vẻ vang hạng nhất, Nhì, Ba cùng nhiều phần thưởng cao quí khác..
Đến nay,trải qua chặng đường dài 33 năm công tác, với 30 năm được sinh hoạt trong chi bộ đảng ở nhiều loại hình tổ chức đảng trong Quân đội, được Đảng, cách mạng, giáo dục và rèn luyện, nhân dân đùm bọc thương yêu, tôi đã trưởng thành, là cán bộ cao cấp, thạc sỹ báo chí luôn dành sức lực, trí tuệ cống hiến cho Đảng, Nhà nước, quân đội và nhân dân, trong đó có quyền lợi bản thân và gia đình mình. Hậu phương, gia đình của tôi cũng khá tạm ổn, vợ tôi là công chức Nhà nước đã nghỉ hưu và cũng là đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam, hai con, một gái, một trai đều tốt nghiệp đại học, con trai là cử nhân báo chí và có nguyện vọng theo nghiệp của bố.
Kỷ niệm 30 năm ngày được kết nạp vào Đảng cộng sản Việt Nam, là dịp để tôi tự nhìn lại mình trong suốt chặng đường cách mạng đã qua, từ đó tự hào về những gì mà mình đã làm được, nghiêm túc nhìn nhận rút kinh nghiệm những gì mình chưa đạt tới để bản thân ngày càng hoàn thiện hơn. Nhân đây, tôi bày tỏ lòng biêt ơn đối với Đảng, Nhà nước, Quân đội và Bác Hồ kính yêu đã dìu dắt giúp đỡ và đem lại cho gia đình và bản thân tôi nhiều hoa thơm và trái ngọt . Tôi nguyện suốt đời theo Đảng và cống hiến hết mình cho Đảng Cộng sản Việt Nam quang vinh./.
La Quang Mão
Thứ Năm, 4 tháng 6, 2015
NƠI ẤY, CHÚNG TÔI TRƯỞNG THÀNH
Tốt nghiệp lớp bồi dưỡng thông tin viên, cộng tác viên do Cục Chính trị Quân khu 2 phối hợp với Báo Quân đội nhân dân tổ chức, về đơn vị một thời gian ngắn, tháng 8 năm 1995, tôi được trên điều về Báo Quân khu 2 công tác. Lúc này báo Quân khu có anh Vũ Viết Xô, Trưởng ban biên tập, anh Phùng Kim Lân, Phóng viên vừa mới đi ôn thi vào Phân viện Báo chí - tuyên truyền, nay là Học viện Báo chí- tuyên truyền, đang chờ gọi về trường nhập học, anh Minh Trường, phóng viên ảnh, anh Vũ Hậu, phóng viên viết kiêm chụp ảnh và anh Ngô Quang Bách, nhân viên trị sự. Sau này lần lượt các anh Nguyễn Quang Chung, Ngô Văn Hùng, Nguyễn Văn Hải, Nguyễn Anh Tuấn, Mè Quang Thắng lần lượt về Báo. Trụ sở của Báo lúc tôi mới về là căn nhà gỗ 3 gian tường trát si, đầu hồi nhìn sang nhà ở của Thủ trưởng Cục hậu cần. Sau này dồn dịch, Báo tiếp quản hai căn nhà cấp 4, nằm đằng sau dãy nhà ở của Ban Chính trị nội bộ cục Chính trị, nhìn lên khu bể nước, nơi phục vụ sinh hoạt chung của các cơ quan trong cục. Năm 1997, Báo lại chuyển sang khu nhà 3 tầng và cuối năm 2004 đầu năm 2005 thì chuyển đến vị trí như hiện nay.
Ngày đầu về Báo, tôi háo hức lắm, nhìn cái gì cũng muốn viết, muốn chụp ảnh, nhưng viết cái gì, chụp thế nào để đăng được báo thì lại là cả một vấn đề. Tôi hăm hở lao vào đọc, đọc tất cả các loại sách báo liên quan đến viết bài và chụp ảnh. Anh Xô, Trưởng ban biên tập, tận tình chỉ bảo tôi cách viết, cách khai thác tư liệu, liên hệ với thủ trưởng các cơ quan và chỉ huy đơn vị mỗi khi tôi đi công tác. Anh Minh Trường thì hướng dẫn tôi cách chụp ảnh. Sau khi đi công tác về, trước lúc tôi viết bài, anh Xô lại định hình bài viết, nêu kết cấu của bài, rồi cắt, gọt, bổ sung, rút tít tạo cho bài viết có sức nặng về thông tin, mang hơi thở nóng hổi của cuộc sống. Chính vì vậy, nhiều bài viết của tôi, ngoài đăng ở báo Quân khu ra, còn đăng được trên các báo, đài Quân đội và báo các tỉnh trên địa bàn. Những bài viết có ấn tượng, được nhiều độc giả nhớ đến như “ Ghi chép ở Trung đoàn Tăng- thiết giáp”, “ Ấn tượng Hoàng Su Phì”, “ Trận đánh giữa thời bình ở Đoàn M68”, “Đàn cò nhà ông rùa” … Cũng nhờ những bài viết này mà tên tuổi của tôi từng bước trở nên quen thuộc với bạn đọc gần xa và các đồng nghiệp trong làng báo. Tôi phấn khởi, sẵn sàng tới những nơi khó khăn, gian khổ, có mặt ở hầu hết các địa danh xa xôi của 9 tỉnh Tây Bắc, đến với các đơn vị bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương, dân quân, tự vệ, phản ánh chân thật hoạt động công tác quân sự - quốc phòng địa phương, nhiệm vụ xây dựng lực lương vũ trang nhân dân chính qui tinh nhuệ từng bước hiện đại, xây dựng tỉnh, thành phố trên địa bàn Quân khu thành khu vực phòng thủ vững chắc trong tình hình mới. Trong quá trình làm báo cũng có nhiều giai đoạn thể hiện bút lực khác nhau. Lúc mới về tòa soạn, sức viết rất dồi dào và trôi chảy, bởi lúc đó cảm xúc luôn mới mẻ, ngôn ngữ, chi tiết cũng mới lạ, khiến Trưởng ban biên tập khi đọc bài của tôi thấy ưng ý, nhưng rồi dần dần bài của tôi cứ cũ đi, khi đọc như lặp lại chính mình, không có gì mới, đồng chí Trưởng ban biên tập cảm thấy chán ngán, mỗi khi tôi nộp bài. Còn tôi, cũng thấy nản, bởi ngòi bút cứ lì ra, có hôm ngồi suốt cả ngày cũng không viết được dòng nào. Có bận, đi công tác về đã lâu mà chưa thấy có bài nộp, đồng chí Trưởng ban biên tập mặt nhăn nhó, tỏ ra không hài lòng, lúc đó tôi rất buồn. Thế rồi trong một chuyến công tác tại Trung đoàn 82, viết lần đầu, tôi chỉ mới đề cập vấn đề thực hiện qui chế dân chủ ở cơ sở, đồng chí Trưởng ban biên tập bảo tôi viết lại và chuyển sang viết về xây dựng Đảng, lúc này, tôi cố gắng huy động trí nhớ mà mình đã trao đổi với các đồng chí lãnh đạo Trung đoàn và quyết định tập trung các dữ kiện phục vụ bài viết với tiêu đề “ Giáo dục, quản lý đội ngũ đảng viên ở Trung đoàn 82”. Viết xong, nộp bài cho đồng chí Trưởng ban biên tập, đồng chí rất vui, còn tôi thì thở phào nhẹ nhõm. Tôi gửi bài đó cho báo Nhân dân và kèm theo một ảnh chụp các chiến sĩ thông tin Đoàn M68 đọc nguyệt san Nhân Dân chủ nhật, hai ngày sau bài và ảnh được đăng trang trọng trên trang 3 mục xây dựng Đảng. Cầm tờ báo thấy bài của minh được đăng, tôi mừng lắm, tôi gửi tiếp bài nữa về xây dựng Đảng, báo Nhân dân lại đăng ngay cũng trên trang đó. Có thể nói từ đây, tôi chấm dứt sự bế tắc về cách tiếp cận lựa chọn đề tài, tôi đã tìm ra đề tài hợp với sở trường của mình để dễ dàng đăng được trên các báo, và như vậy diện tuyên truyền các sự kiện của Quân khu cũng vươn rộng hơn, mang tính toàn quân, toàn quốc, tôi mạnh dạn tham gia các cuộc thi báo chí do Bộ Quốc Phòng, Tổng cục chính trị tổ chức và cũng đạt được một số giải như giải ba phóng sự về đề tài quốc phòng toàn dân, xây dựng LLVTND do Bộ Quôc phòng phát động trong 2 năm 2002-2004 với tác phẩm “ Về nơi gió ngàn”, giải ba bút ký “ vượt lên hoàn cảnh nuôi dạy hai con trưởng thành” trong cuộc thi viết về đề tài gia đình, phụ nữ và trẻ em trong Quân đội do TCCT tổ chức năm 2003, giải khuyến khích trong cuộc thi phòng chống các tệ nạn xã hội do Bộ Quôc phòng tổ chức từ năm 1997 đến tháng 12 năm 1999 cùng nhiều bằng khen, giấy khen của thủ trưởng TCCT trong tổng kết công tác báo chí của chương trình phát thanh QĐND ( nay là Trung tâm phát thanh- truyền hình QĐND).
Tháng 1o năm 1998, Báo Quân khu cho tôi và đồng chí Vũ Hậu đi ôn thi rồi trúng tuyển vào Học viện Báo chí- tuyên truyền. Mãi đến tháng 6 năm 1999, Nhà trường mới chính thức khai giảng khóa học. Học lớp học này cùng với tôi và Vũ Hậu còn có Ngô Hùng, sau này cũng về Báo. Trải qua 4 năm học, tháng 12 năm 2003, chúng tôi tốt nghiệp cử nhân báo chí. Với những kiến thức tiếp thu được trong quá trình học tập và công tác, sức viết của tôi ngày càng nâng lên, nhưng điều quan trọng nhất là biết phân biệt được thể loại và loại thể báo chí, đứng trước các sự kiện đã và đang diễn ra, mình có thể sử dụng các thủ pháp nghệ thuật để sáng tạo các tác phẩm báo chí phù hợp, đạt hiệu quả cao trong công tác tuyên truyền. Tháng 6/2006, tôi chuyển về Quân khu Thủ đô làm Trưởng ban biên tập tờ tin, rồi Tổng biên tập báo, tháng 5 năm 2010, Cục Chính trị Bộ Tư lệnh Thủ đô cho tôi đi ôn thi cao học và trúng tuyển vào học tại Khoa báo chí trường Đại học KHXH&NV thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội. Đến tháng 5 năm 2012, tốt nghiệp Thạc sỹ báo chí và tháng 12 năm đó, do yêu cầu nhiệm vụ, tôi chuyển về Trường Sỹ quan Chính trị tức Đại học Chính trị làm công tác biên tập xuất bản và giữ cương vị Phó Trưởng ban biên tập, là thành viên trong tổ BLOG phòng chống DBHB và ủy viên Ban biên tập Website của Nhà trường. Từ đó đến nay, tôi luôn mang theo kinh nghiệp tích lũy được trong chặng đường 20 năm làm báo của mình để áp dụng vào quá trình thực hiện nhiệm vụ trong tình hình hiện nay và luôn đạt kết quả cao. Dù ở đâu làm gì, tôi luôn nhớ về Báo Quân khu 2, cái nôi dìu dắt, giúp đỡ tôi trưởng thành như ngày hôm nay, tôi cảm ơn anh Xô, người anh cả kính mến của báo Quân khu 2 đã chăm chút dạy dỗ những người em mà hôm nay những Phùng Kim Lân, những Nguyễn Minh Trường, Nguyễn Văn Hải, Mè Quang Thắng, Nguyễn Anh Tuấn…đã trưởng thành và còn có nhiều triển vọng tiến xa hơn nữa. Cảm ơn anh Nguyễn Quang Chung, Tổng biên tập và các anh em của báo Quân khu 2 hiện nay là người đã và đang giữ lửa cho báo Quân khu 2 luôn cháy, sưởi ấm tình người và nở rộ tiếng cười khi gặp lại nhau. Đây thực sự là mái nhà chung của các anh và của chúng tôi.
Bắc Ninh ngày 3/6/2015 –La Quang Mão
Duymao63@gmail.com
Thứ Ba, 2 tháng 6, 2015
VỚI ĐẢNG – MỘT NIỀM TIN
Xuân Ất mùi 2015-La Quang Mão
Mới đấy mà đã 85 năm kể từ ngày Đảng cộng sản Việt nam ra đời 3-2-1930- 3-2-2015. Gần một thế kỷ trôi qua, chèo lái đưa con thuyền cách mạng Việt Nam từ chỗ đất nước " đen tối như không có đường ra", nay trở thành quốc gia đang trên đà phát triển, có nền công nghiệp, nông nghiệp tương đối hiện đại, có quan hệ hợp tác với tất cả các nước trên thế giới.
Nhìn lại lúc Đảng ta mới ra đời, dân số cả nước chỉ chừng hơn 20 triệu người, nhưng có tới hơn 90% là mù chữ và phải làm tôi tớ nô lệ cho bọn thực dân và phong kiến. Cái tên Việt Nam trên bản đồ địa chính trị của thế giới rất ít người biết đến, có chăng chỉ biết cái tên An Nam thuộc xứ Đông Dương hay là dân An Nam mít nghe mà thấy thật tủi nhục. Vừa ra đời, Đảng ta phát động cao trào Xô Viết Nghệ- Tĩnh 1930-1931, cuộc tập dượt đầu tiên, chuẩn bị cho Tổng khởi nghĩa Cách mạng Tháng 8/1945 thành công, giành chính quyền về tay nhân dân, lập nên nhà nước công nông đầu tiên ở Đông Nam Á. Ngay sau khi giành được chính quyền, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh lại lãnh đạo toàn dân diệt giặc đói, giặc dốt và khôn khéo đẩy 20 vạn quân Tưởng và hàng vạn quân Anh-Ấn về nước để ta tập trung sức đối phó với đội quân viễn chinh Pháp cố tình xâm lược, rắp tâm cướp nước ta một lần nữa. Toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta đoàn kết một lòng, " thà hy sinh tất cả, nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ", tiến hành cuộc kháng chiến 9 năm trường kỳ thắng lợi bằng chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ " Lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu". 21 năm ( 1954-1975), dưới sự lãnh đạo của Đảng, với tinh thần" không có gì quí hơn độc lập, tự do", quân và dân hai miền Nam-Bắc đã thực hiện xuất sắc lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh: " Đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào", thu non sông về một mối, đưa cả nước tiến lên chủ nghĩa xã hội và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN.
Đại hội VI của Đảng đã đề ra đường lối đổi mới và sau gần 30 năm kiên trì thực hiện, nước ta đã thu được nhiều thành tựu quan trọng cả về kinh tế, chính trị, văn hóa xã hội và quốc phòng, an ninh. Từ chỗ bị bao vây, cấm vận, đến nay nước ta có quan hệ hợp tác với hầu hết các nước trên thế giới, xây dựng quan hệ đối tác chiến lược với nhiều quốc gia có nền kinh tế phát triển và có chế độ chính trị khác nhau. Năm nay cũng là năm nước ta kỷ niệm 20 năm Việt Nam bình thường hóa quan hệ với Mỹ (11/ 7/1995- 11/7/2015). Hiện nay, Việt Nam là một trong những thành viên trụ cột, tin cậy của hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), có tiếng nói quan trọng và tham gia tích cực vào quá trình gìn giữ hòa bình, ổn định trong khu vực và trên thế giới.
Ở trong nước, đời sống nhân dân không ngừng được cải thiện, thu nhập bình quân đầu người năm 2014 đạt trên 1960USD, là nước có mức thu nhập trung bình trong khu vực. Kinh tế phát triển, chính trị ổn định, quốc phòng, an ninh vững mạnh, Việt Nam là điểm đến an toàn và tin cậy nhất của du khách và các đối tác trên thế giới. Mối quan hệ giữa Đảng với nhân dân ngày càng gắn bó, nhân dân tin tưởng, yêu mến, bảo vệ, tích cực tham gia đóng góp, xây dựng Đảng ta ngày càng trong sạch vững mạnh. Đồng lòng với nhân dân, Đảng ta không ngừng đổi mới phương thức lãnh đạo, lắng nghe, tiếp thu ý kiến đóng góp của nhân dân, thẳng thắn tự sửa chữa khuyết điểm để tiến bộ, nâng cao năng lực lãnh đạo ngang tầm với nhiệm vụ, "xứng đáng là người lãnh đạo, người đầy tớ thật trung thành của nhân dân".
Thông thường với một đời người, khi tuổi càng cao, sức khỏe càng giảm, nhưng với Đảng ta, tuổi càng cao, sức vóc càng cường tráng, trí tuệ càng minh mẫn, hội tụ đủ "tâm, tầm, tài ", lãnh đạo đất nước vững bước trên con đường CNH,HĐH, xây dựng nước Việt Nam "Dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ công bằng văn minh” theo định hướng XHCN đúng với vị trí là Đảng chính trị duy nhất lãnh đạo toàn dân tộc Việt Nam như Điều 4 Hiến pháp năm 2013 đã qui định. Được như vậy, Đảng ta mãi mãi xứng đáng với niềm tin của nhân dân.
Chủ Nhật, 24 tháng 5, 2015
NGÀY ẤY CHƯA XA
Tác giả: Nguyễn Hữu Nghị
Khoa Văn hóa Ngoại ngữ
Với kinh nghiệm gần 20 năm làm công tác giảng dạy, khoác trên mình bộ quân phục, tôi luôn tự hào mình là “thầy giáo – chiến sĩ”, bây giờ đã được coi là “lão làng” trong con mắt các giảng viên trẻ của Khoa Văn hóa Ngoại ngữ. Ấy vậy mà mỗi lần ngồi phía cuối lớp dự giờ, kiểm tra giảng những tiết lên lớp đầu tiên của các giảng viên trẻ mới về Khoa công tác, trong lòng tôi vẫn dấy lên cảm xúc bồi hồi, khó tả. Dường như khi tôi lắng nghe, chăm chú theo dõi những gương mặt tươi trẻ căng tràn nhiệt huyết ấy, tôi lại bắt gặp hình ảnh của chính mình gần 20 năm về trước của một kỷ niệm luôn sống mãi trong tôi: buổi lên lớp đầu tiên trước đối tượng học viên hoàn thiện cao đẳng 18 tháng những năm 1996- 1998.
Khoa Văn hóa Ngoại ngữ
Với kinh nghiệm gần 20 năm làm công tác giảng dạy, khoác trên mình bộ quân phục, tôi luôn tự hào mình là “thầy giáo – chiến sĩ”, bây giờ đã được coi là “lão làng” trong con mắt các giảng viên trẻ của Khoa Văn hóa Ngoại ngữ. Ấy vậy mà mỗi lần ngồi phía cuối lớp dự giờ, kiểm tra giảng những tiết lên lớp đầu tiên của các giảng viên trẻ mới về Khoa công tác, trong lòng tôi vẫn dấy lên cảm xúc bồi hồi, khó tả. Dường như khi tôi lắng nghe, chăm chú theo dõi những gương mặt tươi trẻ căng tràn nhiệt huyết ấy, tôi lại bắt gặp hình ảnh của chính mình gần 20 năm về trước của một kỷ niệm luôn sống mãi trong tôi: buổi lên lớp đầu tiên trước đối tượng học viên hoàn thiện cao đẳng 18 tháng những năm 1996- 1998.
Tốt nghiệp Khoa Lịch sử - Trường Đại học Sư phạm Hà Nội năm 1995, đáng lí ra tôi phải là thầy giáo
của những cô cậu cấp 3 mới đúng, vậy mà cơ duyên lại đưa cuộc đời tôi trở thành người “lái đò” của những sinh viên mặc áo lính. Vẫn ngày ngày lên lớp với bảng, phấn, nhưng đối tượng thì hoàn toàn khác với những gì tôi hình dung trước khi vào quân ngũ. Không phải là những cô cậu học trò tuổi mới lớn hồn nhiên, trong trẻo, tinh nghịch chỉ nhường lại hai vị trí đầu cho “nhất quỷ nhì ma”.
Sau những tuần đầu bỡ ngỡ, tôi đã từng bước thích nghi, hòa nhập với đặc thù công việc, được Thủ trưởng Khoa cho “thử sức” trước các đối tượng học viên.
Trung tuần tháng 11 năm 1998, tôi được Thủ trưởng giao nhiệm vụ huấn luyện mới: tham gia giảng dạy 2 lớp hoàn thiện cao đẳng 18 tháng. Đối tượng học viên của 2 lớp này, đa phần là những cán bộ đã trải qua thực tế công tác nhiều năm, quân hàm từ Thượng úy đến Thượng tá, trải qua các cương vị khác nhau, tuổi thanh xuân đã nhiệt thành cống hiến cho đất nước và mới chỉ học qua các lớp sơ cấp, trung cấp nay mới có điều kiện để học tiếp. Về tuổi tác, họ đáng bậc cha chú của tôi; về kinh nghiệm thực tiễn, họ giàu vốn sống và trải nghiệm, nhiều đồng chí trong lớp có lẽ tuổi quân còn nhiều hơn tuổi đời của tôi. Nhận nhiệm vụ, tôi mang tâm trạng bất an với cảm giác lo lắng dường như có một áp lực vô hình đang đè nặng, liệu mình có đủ tự tin, bản lĩnh để hoàn thành nhiệm vụ trong khi chỉ có bầu nhiệt huyết tuổi trẻ và kinh nghiệm giảng dạy hơn một năm.
Đêm trước hôm lên lớp, mặc dù đã chuẩn bị hồ sơ giáo án đầy đủ, đã tập giảng, thông qua bài khá trơn tru ở Khoa nhưng sao vẫn thấy chộn rộn trong lòng, một cảm giác hồi hộp, lo âu, thắp thỏm – một tâm trạng khó diễn đạt thành lời. Tôi vốn là người rất dễ ngủ, vậy mà không sao chợp mắt được. Cứ nhắm mắt vào là những dòng giáo án, những tình huống sư phạm của bài giảng ngày mai lại hiện lên trong tâm trí tôi, tiến trình bài giảng như được tua lại nhiều lần…Tôi chỉ mong sao cho trời chóng sáng để được lên lớp “công diễn” với không nhiều tự tin.
6g30 phút, vào lớp, tôi bước lên bục giảng với tâm trạng khá hồi hộp, trống ngực đập thình thịch, nhịp tim có lẽ phải lên đến 150 lần/phút. Tôi đưa mắt nhìn một lượt xuống lớp học với những ấn tượng mạnh: 2/3 học viên trong lớp đeo kính lão, đa số mái đầu điểm bạc và quân hàm thấp nhất là Thượng úy…Mất mấy phút sau tôi mới lấy lại được cảm giác thăng bằng. Sau vài lời giới thiệu làm quen của buổi đầu lên lớp, tôi nghe có tiếng xì xào: “thầy giáo trẻ thế, hơn con gái út của tôi một tuổi”tôi làm như không nghe thấy và bắt đầu bài giảng. Tiết đầu tiên của chủ đề 3 học phần Lịch sử dân tộc: “Khái quát lịch sử văn hóa Việt Nam” chủ yếu là giải quyết các khái niệm văn hóa, văn minh, văn hóa học, cơ sở văn hóa, bản sắc văn hóa, văn hóa cổ truyền…có những khái niệm rất trừu tượng, không dễ cắt nghĩa, nhất là phải lấy ví dụ thực tiễn để minh chứng, mà tôi thì vốn sống, kinh nghiệm thực tiễn còn ít ỏi. Một số học viên trong lớp còn kiểm tra kiến thức của thầy giáo trẻ bằng cách đưa ra một số câu hỏi có thể không khó nhưng mang yếu tố bất ngờ như “Nhờ thầy giải thích cho ý nghĩa của nhà mồ, tượng nhà mồ và lễ bỏ mả của một số dân tộc ở Tây Nguyên”; “Vì sao trong thế giới hiện đại khoa học kỹ thuật phát triển, con người có sự hiểu biết sâu sắc về thế giới nhưng dòng người gia nhập các tôn giáo vẫn không ngừng gia tăng?”…Trong những trường hợp này, đối với đa số giáo viên trẻ nếu không bình tĩnh xử lý các tình huống “phát sinh ngoài kịch bản” sẽ “toát mồ hôi hột”, loay hoay, dẫn tới cháy giáo án và có thể tiết học sẽ đi theo một hướng rất khác. Tôi thầm nghĩ, mình sẽ biến thách thức này thành cơ hội để khẳng định thương hiệu của Khoa Văn hóa Ngoại ngữ, thương hiệu của sinh viên Trường Đại học Sư phạm Hà Nội. Trước khi trả lời câu hỏi của các đồng chí học viên, tôi thường đặt các câu hỏi ngược lại để cả lớp cùng suy nghĩ, trả lời như: “các đồng chí có biết điểm khác nhau về của đồ cúng của đồng bào Tây nguyên trong lễ Bỏ mả với đồ cúng của đồng bào Kinh?”; “Mối liên hệ giữa người sống và người chết trước và sau khi làm lễ Bỏ mả”; “Những áp lực của cuộc sống hiện đại và nhu cầu tinh thần của con người?”…rồi tôi cố gắng vận dụng kiến thức, khả năng diễn đạt để làm sao có câu trả lời thuyết phục nhất trước cả lớp. Tiết học trở nên sôi nổi, khoảng cách tuổi tác giữa giáo viên và học viên dường như không còn nữa, tôi đã cảm nhận được những ánh mắt hài lòng, thân thiện, thái độ tôn trọng của lớp học.
Giờ học kết thúc. Tôi thở phào nhẹ nhõm, một cảm giác sảng khoái, nhẹ nhõm ngập tràn, những lo lắng, mệt mỏi bởi một đêm mất ngủ dường như tan biến. Về đến Khoa, đồng chí Chủ nhiệm Khoa bắt tay thân mật hỏi “Thế nào? Hôm nay dạy ổn chứ”, tôi đứng nghiêm giơ tay thực hiện động tác chào: “Báo cáo Thủ trưởng, tôi đã hoàn thành tốt nhiệm vụ!”.
Tiếp Bước
Trịnh Trọng Tuân
Kính tặng chú Đỗ Xuân Cường
Kính tặng chú Đỗ Xuân Cường
Chú Đỗ Xuân Cường là chiến sĩ dũng cảm đã trình bày phương án và tham gia “mở đường máu” tại trận quyết chiến Phước Yên của K8 vào tháng 4/1968. K8 ngày đó tức Trung đoàn BB38 ngày nay.
Bài thơ được viết để tặng chú Cường cùng những người lính trở lại thăm Trung đoàn nhân dịp kỷ niệm 60 năm Ngày truyền thống Trung đoàn BB38 “Đoàn Gio An anh hùng” (20/9/1954 – 20/9/2014).
Chú Cường ơi!
60 năm một chặng đường lịch sử
Trung đoàn xây dựng, chiến đấu, trưởng thành
Là mồi hôi, nước mắt và máu xương
Của biết bao Anh hùng như các chú
Đã hi sinh cho tự do dân tộc
Cho hạnh phúc, ấm no triệu triệu đồng bào
Cho chúng cháu có được lòng tự hào
Những người lính hôm nay
Viết tiếp chiến công trang sử oai hùng
Chắc tay súng nguyện bước theo cờ Đảng
Quyết một lòng vì Tổ quốc, Nhân dân
Để xứng đáng người quân nhân cách mạng
Người Chiến sĩ Gio An “dũng cảm”, “kiên cường”.
Tháng 8 năm 2014
KỶ NIỆM VỀ MỘT HỘI THI
Tác giả: Nguyễn Hữu Nghị
Khoa Văn hóa Ngoại ngữ
Ai trong mỗi chúng ta cũng mang trong mình những kỷ niệm, hoài bão khó phôi phai trong cuộc đời. Tôi cũng đã có ngót 20 năm quân ngũ, kỷ niệm khó quên nhất, ấn tượng nhất có lẽ là: “Hội thi Giáo viên giỏi toàn quân các học viện, nhà trường đào tạo bậc đại học năm 2001” được tổ chức tại Trường Sĩ quan Lục quân 1 với biết bao niềm vui, sự luyến tiếc cứ đan xen vào nhau để rồi mỗi khi nhớ lại, như vừa mới hôm qua.
Là một giảng viên của Trường Sĩ quan Chính trị, nhưng tôi từ một sinh viên tốt nghiệp Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, được tuyển vào Khoa Văn hóa Ngoại ngữ, từ đầu năm 1996. Được sống và làm việc trong môi trường binh nghiệp là niềm tự hào của bản thân, vì thế mà lúc nào tôi cũng luôn luôn tâm niệm phải nỗ lực rèn luyện, phấn đấu hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ. Nhưng không phải công việc nào cứ hạ quyết tâm là sẽ hoàn thành tốt vì đường bước tới đài vinh quang đâu chỉ có hoa hồng trải rộng mà là sự lao tâm khổ tứ, rèn đức, luyện tài không ngừng mệt mỏi. Cho đến bây giờ tôi vẫn còn nhớ y nguyên cái cảm giác hôm được đồng chí Nguyễn Văn Phú nguyên Chủ nhiệm khoa và đồng chí Bí thư Chi bộ Nguyễn Đắc Trục giao nhiệm vụ. Với vẻ cương nghị trên khuôn mặt của hai Thủ trưởng, tôi khó có thể đoán được đó là nhiệm vụ gì. Dường như thấy được sự lo lắng của tôi, không để chờ đợi lâu, đồng chí Chủ nhiệm Khoa vỗ vai tôi nói: “sắp tới đồng chí sẽ cùng 5 giáo viên khác của Nhà trường tham dự Hội thi Giáo viên giỏi toàn quân tổ chức tại Trường Sĩ quan Lục quân 1. Đây là một vinh dự lớn, thành công của đồng chí chính là đem lại vinh quang cho tập thể Khoa nói riêng và Nhà trường nói chung nhưng nhiệm vụ này cũng rất nặng nề”. Từ phòng Thủ trưởng về, trong lòng tôi biết bao cảm xúc cứ đan xen với nhau: vui thì ít, lo lắng thì nhiều. Vui vì mình đã được Thủ trưởng Nhà trường, Thủ trưởng Khoa tin tưởng vào năng lực công tác của mình, nhưng lo lắng liệu mình có thể hoàn thành tốt trọng trách này hay không?
Tại thời điểm ấy – năm 2001, tôi vừa được vinh thăng quân hàm Thượng úy, với tuổi nghề và tuổi quân vẻn vẹn 6 năm, kinh nghiệm công tác chưa nhiều. So với 5 đồng chí trong đội tuyển, họ được xem là những “cây đa, cây đề” và đều có quân hàm cấp Tá với nhiều kinh nghiệm đứng trên bục giảng, tuổi nghề có đồng chí gần bằng với tuổi đời của tôi, nhiều năm liền là giáo viên giỏi cấp Trường, nên họ có rất tự tin và đầy kinh nghiệm. bản lĩnh. Chỉ cần làm phép so sánh với các đồng chí trong đội tuyển của Trường, chứ chưa nói gì tới các học viện, nhà trường đào tạo bậc đại học trong toàn quân, tôi mới thấy mình nhỏ bé nhường nào, vậy mà phải đối mặt với cuộc thi lớn mang tầm cỡ toàn quân, chỉ nghe thế thôi mà đã “toát mồ hôi”. Nhưng với quyết tâm của tuổi trẻ, nghị lực, ý chí của bản thân, tôi nghĩ mình phải nỗ lực, nỗ lực nhiều hơn nữa để hoàn thành nhiệm vụ một cách xuất sắc mà cấp trên đã tin tưởng giao phó.
Hội thi Giáo viên giỏi năm ấy, các thi sinh phải trải qua 6 nội dung đua tài bắt buộc: Thi giảng chuyên ngành, thi thực hành Tin học, thi ngoại ngữ (riêng môn này được đăng ký theo sở trường của cá nhân), thi Điều lệnh đội ngũ, Điều lệnh quản lý bộ đội, thi hiểu biết về kiến thức xã hội và môn bắn súng ngắn K54 bài 2. Đối với tôi, 6 nội dung dự thi thì môn chuyên ngành và ngoại ngữ là ít phải lo hơn cả, nhưng không vì thế mà được chủ quan. Các môn còn lại quả thật là rất khó, kiến thức rộng lại không phải là sở trường của mình. Vì vậy từng nội dung thi tôi phải sắp xếp lịch tự ôn tập thật khoa học ngoài những giờ ôn luyện tập chung do Nhà trường tổ chức.
Với sự quan tâm của Nhà trường dành cho Đội tuyển, mặc dù chỉ có mình tôi đăng ký dự thi môn Tiếng Nga, nhưng Thủ trưởng Nhà trường chỉ đạo vẫn phải tổ chức một lớp ôn luyện dành riêng cho tôi dưới sự huấn luyện của thầy Bạch Thái Cường (nguyên Chủ nhiệm bộ môn Ngoại ngữ). Một thầy - một trò, nên rất nhiều thuận lợi, thầy đã mang hết tâm huyết và nhiệt tình để bồi dưỡng kiến thức. Phải nói rằng sau 6 năm không sử dụng đến ngoại ngữ, nhưng vốn từ vựng của tôi gần như không hề rơi rụng, cốt lõi bây giờ là phải nắm chắc cấu trúc ngữ pháp và phát âm. Thầy đã dạy cho tôi rất tỉ mỉ về giới từ, chuyển đổi các cách đến bộ phận nòng cốt của câu, nhờ đó mà tôi dịch rất hay những mẩu truyện ngắn, viết những đoạn văn theo chủ đề thầy giao tràn đầy cảm xúc. Chỉ sau một thời gian ngắn huấn luyện tôi có thể trò chuyện được với thầy bằng vốn ngoại ngữ của mình. Hễ cứ gặp nhau là thầy trò lại nói bằng tiếng Nga. Vì thế mà tôi đã yên tâm phần nào cho môn thi này. Đây cũng là điều hết sức thuận lợi để năm 2003, tôi tự tin dự kỳ thi tuyển sinh sau đại học tại Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, trong khi rất nhiều thí sinh dự thi sợ trượt môn ngoại ngữ.
1/3 số môn dự Hội thi Giáo viên giỏi đã phần nào được giải tỏa tâm lý. Còn lại 2/3 số môn, lại là những môn khó tôi phải dành nhiều thời gian và công sức. Tôi luôn tâm niệm, môn càng khó thì không được ngại học, sợ học mà càng phải quyết tâm cao độ, đấy chính là môn Điều lệnh đội ngũ, được thầy đánh giá “yếu nhất đội”. Thực tế tôi vốn không được đào tạo từ các trường quân đội nên với tôi môn này là “sở đoản”. Đã thế, môn học đòi hỏi người học khi thực hành phải thể hiện động tác chính xác, khỏe khoắn, khẩu khí to, rõ, dứt khoát. Đã có lúc tôi tự động viên mình “chỉ có hô và thực hành động tác thôi” tại sao lại không làm được. Thế là ngay cả những ngày cuối tuần được nghỉ, tranh thủ về thăm vợ con, nhà tôi ở trong khu tập thể một trường THCS cách trường 40 km, tận dụng sân trường cuối tuần vắng vẻ - đây là một không gian lý tưởng tôi quyết tâm luyện tập. Tôi tưởng tượng mình đang chỉ huy một đơn vị vừa tập hô khẩu lệnh vừa rèn luyện động tác sao cho thật thuần thục. Buồn cười nhất là những lúc đang tập, quay lại thì thấy phía đằng sau có khá nhiều người lớn và cả trẻ em đứng xem, họ không hiểu tôi đang làm điều gì kỳ quặc, mặt tôi đỏ bừng lên, cả người nóng ran. Vậy mà thật ấn tượng làm sao, kết quả môn Điều lệnh của tôi thuộc tốp cao của Hội thi, điều này hết sức bất ngờ với tôi và các thành viên trong đoàn dự thi của Trường Sĩ quan Chính trị.
Môn bắn súng cũng không kém phần gay cấn, mặc dù đây là môn học ai cũng thích vì nó khá thoải mái về tinh thần. Trước khi thi, chúng tôi có tới 12 buổi thực hành tập bắn, mỗi người được giao một khẩu K54 trong suốt quá trình luyện tập, trung bình mỗi buổi tập mỗi người bắn khoảng 50 viên đạn, tổng cộng 12 buổi là 600 viên. Nhớ lại những buổi ra thao trường, với cái nắng nóng như đổ lửa, mồ hôi ai cũng vã ra như tắm, nước uống bao nhiêu cũng không thoả mãn cơn khát. Khuôn mặt ai cũng sạm lại vì nắng gió thao trường nhưng lại rất rắn rỏi, tự tin. Hiểu rõ những khó khăn ấy, Nhà trường luôn tạo điều kiện tốt nhất cho anh em chúng tôi cả về vật chất lẫn tinh thần: xe đưa đón thuận tiện, nước uống, khẩu phần ăn trưa phải đảm bảo dinh dưỡng, ngon miệng, vì thế mỗi chúng tôi ai cũng tự nhủ phải cố gắng, cố gắng nhiều hơn nữa.
Trong số các môn dự thi có lẽ ấn tượng nhất trong tôi phải kể đến đó là môn: “hiểu biết về kiến thức xã hội” – đây là thế mạnh của Trường Sĩ quan Chính trị. Tôi luôn ý thức được trách nhiệm của mình là phải hoàn thành xuất sắc bài thi môn này, quyết tâm trả lời vừa thuyết phục vừa thật ấn tượng đối với ban giám khảo. Nhưng kho tri thức rộng mênh mông như biển cả mà sự hiểu biết của con người chỉ là hạt muối giữa đại dương. Song tôi khá tự tin vào sự chuẩn bị của mình. Với nội dung này chúng tôi phải thi vấn đáp, bốc thăm câu hỏi ngẫu nhiên và cái khó là sau khi nhận câu hỏi phải trả lời ngay mà không có thời gian chuẩn bị, nên đa số các thí sinh có tâm lí rất hồi hộp và lo lắng. Tâm trạng tôi cũng giống như bao đồng chí khác, khi gọi đến tên mình, tim tôi như muốn nhảy ra khỏi lồng ngực, không biết sẽ nhận nội dung gì. Mặc dù đã có 6 năm đứng trên bục giảng, nhưng tâm trạng của tôi lúc này chẳng khác nào cậu học sinh lần đầu đi thi. Nhưng khi có câu hỏi trong tay, tôi lấy lại bình tĩnh và trả lời rành rọt, lưu loát cả câu hỏi chính lẫn câu hỏi phụ ban giám khảo đưa ra. Hoàn thành bài thi , tôi cảm nhận được vẻ hài lòng từ tất cả các vị giám khảo. Kết quả môn thi Hiểu biết tôi đã đạt điểm “thủ khoa” ở bàn thi.
Niềm vui nối tiếp niềm vui, từ những môn mà tôi được đánh giá là “yếu nhất đoàn”, môn mà mọi người lo cho tôi thì tôi lại giành được ưu thế. Đây là động lực để tiếp thêm sức mạnh cho tôi ở bài thi bắn súng. Trước môn thi cuối cùng (môn bắn súng) thì Trường Sĩ quan Chính trị chỉ còn lại 2/6 đồng chí là tôi và Trung tá Nguyễn Đắc Ngọt có điểm các môn thi đều đạt kết quả từ 8,6 trở lên – đây là điều kiện bắt buộc để đạt danh hiệu “giáo viên giỏi toàn năng toàn quân” với điều kiện nếu hoàn thành bài thi bắn súng kết quả khá trở lên. Lúc này chúng tôi nhận được rất nhiều lời động viên, khích lệ cũng như sự kỳ vọng của đoàn.
Bước vào môn thi cuối cùng - môn bắn súng ngắn K54 bài 2, đây là môn thi khó, ngay cả những người bắn giỏi cũng không thể nói trước rằng mình sẽ hoàn thành xuất sắc bài thi. Lần đầu tiên tôi được bắn súng K 54 trước một Hội đồng Giám khảo cấp Bộ nên trong tôi không khỏi bồi hồi, lo lắng. Một cảm giác trong tôi thật khó tả: tôi chỉ mong sao trời chóng sáng để được cầm súng tự tin mà ngắm bắn. Nhưng lúc này đồng hồ mới chỉ đến số 12, rồi 1 giờ… 2 giờ…tôi vẫn không sao thiếp đi được. Vậy là chỉ còn mấy tiếng nữa thôi, môn thi cuối cùng sẽ kết thúc, đường lên đỉnh Olimpia thì dường như gần lắm rồi. Ai? Ai sẽ là người đầu tiên chinh phục đỉnh Olimpia. Suy nghĩ miên man đến gần 3 giờ sáng tôi mới chìm vào giấc ngủ.
8 giờ sáng của buổi thi cuối cùng bắt đầu, khác với những buổi tập ngoài thao trường, hôm nay không phải là cái nắng cháy da cháy thịt mà là tiết trời thu nắng nhẹ, dường như thời tiết cũng chiều lòng người. Nghe hiệu lệnh gọi, tôi bình tĩnh, tự tin nhận súng vào vị trí. Nghe dứt hiệu lệnh, tôi nhanh chóng thực hiện yếu lĩnh động tác, bóp cò ở cự ly 50 m, bia không đổ, lòng tự nhủ sẽ quyết tâm ở cự ly 35m, lại bình tĩnh ngắm bắn, bóp cò, bia vẫn không đổ. Trong lòng tôi đôi chút dao động, lúc này chỉ còn một viên đạn ở cự ly bắn cuối cùng: 25m, bia hiện ra rất gần và rõ. Tôi lại nheo mắt ngắm bắn, bia đã đổ nhưng với cự ly này người bắn chỉ đạt yêu cầu đồng nghĩa với kết quả tôi chỉ đạt danh hiệu “Giáo viên dạy giỏi chuyên ngành cấp Bộ” chứ không phải danh hiệu “Giáo viên giỏi toàn năng toàn quân”. Lòng buồn bã tôi rời vị trí bắn, đồng chí trưởng đoàn cùng đồng đội đã động viên tôi rất nhiều nhưng nỗi buồn này thật khó nguôi ngoai.
Hội thi khép lại, mặc dù 6 đồng chí chúng tôi đều đạt danh hiệu: “Giáo viên dạy giỏi chuyên ngành cấp Bộ”, nhưng trong lòng mỗi chúng tôi đều cùng chung một tâm trạng: niềm vui xen lẫn nỗi buồn và cả sự luyến tiếc. Giá như mình có bản lĩnh hơn. Giá như mình có nhiều kinh nghiệm hơn nữa. Giá như…giá như…Biết bao nhiêu cái giá như cứ hiện hữu, để rồi mỗi khi ngẫm lại, lại tìm thấy bài học mới.
Mọi điều tưởng như vừa mới hôm qua thôi, thế mà đã gần 15 năm rồi kể từ Hội thi ấy, anh chàng Thượng uý năm xưa nay đã mang quân hàm Trung tá với cương vị Phó chủ nhiệm Khoa, nhớ về những ngày tháng ấy, trong tôi vẫn nguyên vẹn nhiệt huyết của ngày nào. Giờ đây, nếu cho tôi một điều ước, tôi sẽ ước mình lại được đứng trong đội tuyển năm xưa để lại có thêm một cơ hội chinh phục đỉnh cao tri thức, có thêm kinh nghiệm được học hỏi đồng nghiệp các trường bạn trong toàn quân.
15 năm đã trôi qua, nhớ lại Hội thi ấy tôi thầm nhủ: thành công của mỗi con người ít ai mà không trải qua thất bại, nhưng “thất bại là mẹ thành công” điều quan trọng là phải lạc quan, tin tưởng, biết ngẩng cao đầu nhìn về phía trước để phấn đấu vươn lên.
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)






